Cà phê Arabica Việt Nam rất tiềm năng nhưng sản lượng còn khiêm tốn

Mặc dù cà phê arabica hiện chưa được trồng nhiều tại Việt Nam so với robusta, nhưng nó đóng một vai trò rất quan trọng đối với tương lai ngành cà phê Việt Nam. Vì cà phê arabica có chất lượng cao hơn, được ưa chuộng hơn và có giá thành cao hơn, nên arabica được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao giá trị xuất khẩu của cây cà phê Việt Nam trong tương lai. Trong khi các vùng trồng cà phê robusta đã tương đối chắc chắn và ổn định, các vùng trồng tiềm năng cho cà phê arabica của Việt Nam hiện đang rất phong phú và đa dạng, đặc biệt là vùng núi cao thuộc các tỉnh miền Trung và Tây Bắc Việt Nam.

Các vùng trồng cà phê Arabica của Việt Nam

Hiện tại, diện tích trồng cây cà phê arabica của Việt Nam ước tính đạt khoảng 40.000 héc-ta, chiếm khoảng 6,5% diện tích trồng cà phê cả nước. Theo ông Thanh, một nhà quản lý của Bộ NN & PTNT, một trong những chiến lược phát triển cây cà phê arabica tại Việt Nam là trước hết giữ vững các vùng trồng trọng điểm này cho tới năm 2030. Thêm vào đó, Việt Nam cũng lên kế hoạch thay thế cây cà phê robusta bằng cà phê arabica tại các vùng trồng có điều kiện thổ nhưỡng khí hậu thích hợp. Theo Hiệp hội cà phê và cacao Việt Nam (VICOFA), Việt Nam sở hữu lợi thế rất lớn trong việc phát triển cây cà phê arabica đặc biệt là về phía Bắc, nơi hiện có thổ nhưỡng, điều kiện thời tiết thuận lợi và còn nhiều quỹ đất.

Các vùng trồng cà phê arabica tại Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung tại tỉnh Lâm Đồng (chiếm tới 80%) – nơi có cà phê Moka Cầu Đất danh tiếng, Măng Đen (Kon Tum), miền Trung như A Lưới, Huế, Khe Sanh, Quảng Trị, Nghệ An và Tây Bắc gồm Điện Biên và Sơn La.

Riêng A Lưới, Huế và Thái Hòa, Nghệ An hiện nay hầu như đã ngưng hẳn việc trồng cà phê arabica vì sau một thời gian dài giá cà phê neo quá thấp khiến người nông dân trồng cà phê không thể lo đủ sinh kế và buộc phải chuyển đổi qua các cây trồng khác.

Các vùng trồng cà phê arabica chính của Việt Nam có gì đặc biệt?

Nhìn chung, các điều kiện trồng cà phê arabica thuận lợi là thời tiết lạnh với độ cao từ 1.000m trên mực nước biển. Cà phê robusta thường được trồng dày đặc tại nhiều tỉnh thuộc Tây Nguyên trong khi cà phê arabica được trồng nhiều hơn ở các vùng núi cao phía Bắc và tại Tây Nguyên thì tập trung nhiều ở Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Nghệ An, Hòa Bình, Sơn La và Điện Biên.

Như ta đã biết, ở Việt Nam các vùng ngoại ô của thành phố Đà Lạt trước giờ là vùng trồng cà phê arabica truyền thống với các điều kiện lý tưởng như độ cao (altitude) từ 1.500m trên mực nước biển, khí hậu mát lạnh quanh năm, nhiệt độ hợp lý dao động từ 5oC tới 33oC. Bởi những đặc tính này, vùng này rất thích hợp để trồng cà phê arabica. Đơn cử như cà phê arabica (các chủng Moka hay Bourbon – đọc là Buộc-bông) tại vùng Cầu Đất của Đà Lạt là loại cà phê tốt nhất Việt Nam, có hương vị hảo hạng không thua kém gì các loại cà phê lừng danh của thế giới.

Cà phê quả tươi đã chín đỏ.

Từ Đà Lạt, ngược lên phía Bắc, cũng có nhiều vùng rất thích hợp cho phát triển cây cà phê arabica nhờ thời tiết se lạnh, nhờ khí hậu gió mùa đặc trưng Đông Nam Á kết hợp với lượng mưa hàng năm lớn. Kéo theo đó là các vùng trồng cà phê arabica khác nổi tiếng cũng không kém vùng Đà Lạt là Sơn La (với vùng tiêu biểu là Chiềng Ban), nằm chếch về phía Tây của dãy núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, đồng vị trí với São Paolo của Bra-xin. Cà phê arabica (chủng Catimor) xuất xứ từ các vùng này đang ngày càng được đánh giá cao và được ưa chuộng bởi các khách hàng quốc tế. Hơn nữa, cà phê arabica từ vùng Khe Sanh, Hướng Hóa, Quảng Trị mang chất lượng và hương vị rất riêng đặc trưng của dãy Trường Sơn Bắc gồm các núi Hoành Sơn, Bạch Mã, Phong Nha – Kẻ Bàng, vv., kéo dài từ Thừa Thiên Huế tới biên giới Việt - Lào tại Nghệ An.

Sản lượng cà phê arabica Việt Nam còn thấp và hầu như không tăng trưởng mạnh mẽ

Ở một khía cạnh khác, giá cà phê arabica thường thì cao gấp đôi giá cà phê robusta, chủ yếu do chất lượng khác nhau và qui trình chế biến biến ướt của arabica cầu kỳ và tốn nhiều công hơn. Tập quán hái cà phê trái chín của cà phê arabica nhằm đảm bảo chất lượng cà phê arabica thương phẩm ở mức cao nhất cũng tốn nhiều công sức hơn, dẫn tới giá thành cao hơn. Tuy nhiên, các năm 2009 tới 2013 rồi 2015 - 2019, khủng hoảng kinh tế toàn cầu có tác động tiêu cực không hề nhẹ lên cà phê arabica không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều nước trồng arabica khác, do nhiều nhà sản xuất cà phê gia tăng hàm lượng robusta hoặc thay thế hoàn toàn cà phê arabica bằng cà phê robusta rẻ tiền hơn để giảm giá thành. Thêm nữa, các tác động của điều kiện thời tiết bất thường cũng ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động trồng trọt cà phê arabica. Đơn cử như sản lượng cà phê arabica của Việt Nam niên vụ 2012-2013 được dự đoán là khoảng 850.000 bao, tương đương 51.000 tấn. Tuy nhiên, vào niên vụ sau đó là 2013-2014, USDA đã dự báo sản lượng arabica Việt Nam sẽ giảm ít nhất 10% do các lo ngại về bệnh gỉ sắt lây lan trên cây cà phê xảy ra trong kỳ ra bông.

Về mặt lý thuyết mà nói tiềm năng phát triển cho cây cà phê arabica tại Việt Nam rất là hứa hẹn. Nước ta có các điều kiện rất thuận lợi để phát triển cây cà phê arabica tại nhiều vùng miền trên cả nước trải dài từ miền Trung - Tây Nguyên cho tới tận miền Bắc. Cà phê arabica cũng hứa hẹn là loại cây trồng giúp phát triển kinh tế địa phương vì loại này thường có giá bán cao hơn cà phê robusta. Mặc dù Việt Nam đã có chiến lược rất bài bản để gia tăng sản lượng cà phê arabica, nhưng sản lượng của nó vần còn thấp và thiếu ổn định. Các điều kiện thời tiết cực đoan (bao gồm biến đổi khí hậu và hiện tượng nóng lên toàn cầu) và các bệnh tật xảy đến bất ngờ (như bệnh gỉ sắt) khiến cho việc sản xuất cà phê arabica tại Việt Nam hiện đang là một thử thách lớn.